brandid04- apr2010 30/03/2010
Posted by Dang Vo in 1.Tags: brand, hệ thống nhận diện thương hiệu, Thương hiệu
add a comment


Tải về:brandid04-final
Lãnh đạo cũng cần chất nghệ sĩ 17/01/2010
Posted by Dang Vo in 1.add a comment
Thế giới kinh doanh đang ngày càng hướng tới một cách tiếp cận cho phép cân bằng giữa giá trị và lợi nhuận. Một các tự nhiên để thực hiện được điều này đó là làm theo quan điểm của một người nghệ sĩ.
Cứ cho là như vậy, nhưng tất cả đều đang phải chiến đầu để mưu sinh. Tuy vậy, cũng có những nghệ sĩ có vẻ ngoài khá giản dị và vẻ ngoài tương đối giản dị và hành động tương đối khiêm nhường, đó chính là các CEO, các luật sư, các nhà môi giới chứng khoán, và các nhà khoa học.
Nhiều người vẫn luôn tin rằng các nghệ sĩ giống như những kẻ lập dị – tập trung một cách say mê vào công việc của họ mà không để ý hoặc để ý rất ít tới tình hình tài chính hay thể chất của chính bản thân họ, và thường làm việc thoải mái hơn khi họ làm việc với tư cách là một người thợ làm việc độc lập hơn là một thành viên cộng tác trong một nhóm. Nhưng qua cuộc phỏng vấn gần đây với hai doanh nhân tại RISD [Rhode Island School of Design - Trường thiết kế Rhode Island ở Chicago, Hòa Kỳ], có lẽ nhiều người cần phải thay đổi quan điểm của mình.
Dưới đây là ba khám phá mới từ cuộc phỏng vấn với các cộng sự ở RISD.
1. Các nghệ sĩ luôn cộng tác không ngừng nghỉ. Ví dụ điển hình cho nhận định này chính là việc họ cùng nhau tổ chức những buổi trình diễn, triển lãm có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ. Trong bối cảnh những show trình diễn solo vẫn rất được ưa chuộng, nhưng các nghệ sĩ vẫn làm việc cùng các nhà quản lý, các nhà tổ chức chương trình, từ người tạo khung nền cho chương trình tới người tạo ánh sáng, các nhà báo để mang tầm nhìn của họ tới cuộc sống. Mỗi buổi biểu diễn nghệ thuật chính là sự phối kết hợp trong một phạm vi nào đó.
2. Nghệ sĩ là những nhà truyền thông đầy tài năng. Điểm mấu chốt của công việc làm nghệ thuật đó là truyền đạt một thứ gì đó – một suy nghĩ, một ý tưởng, một cảm xúc, một tầm nhìn. Rõ ràng hơn, nghệ sỹ dùng lời nói để giải thích lối suy nghĩ đằng sau công việc nghệ thuật. Các khán thính giả cùng tham gia vào cuộc trò chuyện đầy ý nghĩa, được mở rộng chính là điểm cốt lõi cho sự thành công của buổi trình diễn.
3. Các nghệ sĩ học cách học tập cùng nhau. Có lẽ lý do tại sao các nghệ sỹ cộng tác và hòa đồng rất tốt với nhau đó là vì họ được học tập trong mô hình studio – khoảng mười sinh viên cùng học trong một phòng trong nhiều giờ liên tục. Cùng nhau học tập, làm việc trong một không gian được tự thể hiện bản thân một cách nhiệt tình, họ dần trở nên thân thiết như những người trong gia đình. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây về sự khác biệt về giáo dục tại Brown và RISD, một sinh viên vừa tốt nghiệp ở cả hai học viện đó đã nói: “Ở RISD có rất nhiều thứ bạn có thể học từ bạn học của mình. Brown thường chỉ là nghe và ghi chép”.
Cho dù họ có thừa nhận bản thân họ là những nhà lãnh đạo hay không, thì các nghệ sỹ vẫn thường khiến người khác phải đi theo họ – đó là những trào lưu xã hội mới hoặc thậm chí là bắt chước theo một đoạn hội thoại của họ. Họ làm được điều đó thông qua những kỹ năng vốn là cố hữu trong công việc của họ như những người truyền cảm hứng chuyên nghiệp. Một số nghệ sĩ có thể hướng nội, một số khác hướng ngoại, nhưng thông qua nghệ thuật, họ hành động như những nhà lãnh đạo sáng tạo, cùng với sự dũng cảm của họ, thể hiện một quan điểm như một sự thật trần trụi.
Chúng ta thấy rằng thế giới kinh doanh đang ngày càng hướng tới một cách tiếp cận cho phép cân bằng giữa giá trị và lợi nhuận. Một các tự nhiên để thực hiện được điều này đó là làm theo quan điểm của một người nghệ sĩ; tính chân thực và sự nguyên vẹn mà các nghệ sỹ mang tới công việc của họ một cách tự nhiên sẽ ngày càng thích đáng hơn.
- Bài viết của John Maeda trên Harvard Business Publishing -
Những ấn tượng Thái Lan. 23/10/2009
Posted by Dang Vo in Personal thought.Tags: British Council, Creative, Pasaya, ThaiLand
add a comment
Chuyến bay của Vietnam airline đưa tôi đến đến nước chùa vàng, Thái Lan lần đầu tiên, trong dịp tham gia lễ hội thiết kế BangKok vào ngày 11.10.09. Chuyện đi được Hội Đồng Anh tại VietNam tài trợ cho những doanh nhân trong ngành sáng tạo.
Sân bay Bangkok rất đẹp! Đẹp trong cách thiết kế và xử lý hình khối kiến trúc đặc trưng của Thái Lan, không lẫn vào đâu được với những hoa văn và đường cong uốn lượn. Nhà ga với đầy đủ công năng (với hệ thống bảng hiệu rõ ràng), cộng với thiết kế đặc trưng đã giành được điểm tốt trong tôi.
Đường xá ở BangKok rất tốt. Tôi vẫn chưa tưởng tượng được với những đường cao tốc vi vu như vậy, tại sao nạn kẹt xe vẫn xảy ra thường xuyên? Một sự đầu tư về cơ sở hạ tầng và hoạch định kiến trúc tổng thể khá tốt. Bangkok lại ghi thêm điểm trong tôi.
Khách sạn 5 sao Pullman King Power chào đón tôi trong không khí rất thân thiện và rất Thái (văn hóa). Và mọi thứ trong phòng không có gì phải phàn nàn, thậm chí là phải khen.
Đường sá, hệ thống tàu điện trên không và tàu điện ngầm tương đối hoàn chỉnh nếu như so sánh với Singapore. Các cao ốc, khu vực mua sắm, v.v đều rất hiện đại. Những điều này khiến tôi cứ mãi suy nghĩ rằng có phải đây là những lí do khiến không có nhiều người Thái nhập cư Singapore, bởi vì điều kiện sống, sinh hoạt và giải trí ở Thái Lan khá tốt.
Tôi đến tham quan nhà máy sản xuất vải công nghiệp cho các sản phẩm nội thất như ghế sofa, giường, màn, vv. Dẫu biết rằng thương hiệu Pasaya khá nổi tiếng nhưng thật sự rất bất ngờ với những ý tưởng trong việc hình thành thương hiệu này cũng như sự quan tâm dành cho khách hàng và nhân viên.
Tất cả các nhà xưởng đều được thiết kế dựa trên tính công năng cộng với độ thẩm mỹ cao như nhà xưởng zigzag, 99.99, pioneer, vv. Đặc biệt nhất vẫn là tòa nhà dành làm căn-tin cho nhân viên (hình) được thiết kế bởi 1 kiến trúc sư người Ý và xây dựng nổi lên trên hồ nước. Nơi đây không chỉ là nơi để nhân viên dùng bữa, mà còn là nơi để họ thư giãn, giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng. Bốn bề bao bọc bởi 1 không gian trong lành, thoáng đãng, lồng vào với những tòa nhà kiến trúc đẹp chắc chắn đã và đang là nơi tuyệt vời nhất cho nhân viên của Pasaya.
Và đây chính là yếu tố trong thời đại mới rằng “khách hàng chưa phải là Thượng Đế, mà chính nhân viên của chúng ta mới là Thượng Đế”…
Marketing bằng cảm xúc: Hiệu ứng bất ngờ 05/10/2009
Posted by Dang Vo in Marketing.Tags: hiệu ứng, Marketing, tiếp thị
add a comment
Một đôi giầy chơi quần vợt đẹp cũng như đôi còn lại, cảm giác của tiếng giầy sột soạt hiệu Nike tạo ra sự thuận lợi.
Và những khoảnh khắc Kodak? Có nhiều lúc, những quảng cáo sướt mướt của họ có thể khiến tôi phải rơi lệ…”.
Đôi khi, không phải chất lượng sản phẩm mà chính là những lời chào hàng có cảm xúc đã khiến người tiêu dùng quyết định sử dụng sản phẩm của công ty bạn…
Trong cuốn MarketBusters của chúng tôi, đồng nghiệp Ian MacMillan và tôi đã khuyến khích các doanh nghiệp hãy suy nghĩ về việc bổ sung cảm xúc cho những lời chào hàng của họ để có thể tạo ra sự khác biệt rõ rệt trong một lĩnh vực vốn đã rất nhiều điều khác biệt.
Chúng ta thích tìm kiếm những ví dụ về sự khác biệt trong cạnh tranh. Chẳng hạn, khi nghe giới thiệu về một bóng đèn bình thường, bạn sẽ không nghĩ là có thể có được nhiều cảm xúc về nó.
Tuy nhiên, các bóng đèn phủ màu hồng để trang trí những chiếc gương (dành cho những người không còn giữ được sắc hồng ban đầu của tuổi trẻ); những ánh đèn sáng chói cho mục đích an ninh, hay lời mời gọi “cảm xúc màu xanh” của những bóng đèn huỳnh quang là những ví dụ về sự bổ sung cảm xúc vào điệp khúc quá quen thuộc cho một loại sản phẩm tương đối hoàn thiện.
Tất nhiên là một số doanh nghiệp cũng biết về những điều này. Với một đôi giầy chơi quần vợt đẹp cũng như đôi còn lại, trên hết là cảm giác của tiếng giầy sột soạt hiệu Nike tạo ra sự thuận lợi. Và những khoảnh khắc Kodak? Có nhiều lúc, những quảng cáo sướt mướt của họ có thể khiến tôi phải rơi lệ.
Chúng tôi gọi những lời mời chào có cảm xúc tích cực là những nhân vật “kích thích”, và chúng tôi khuyến khích các doanh nghiệp nghĩ tới việc họ có thể sử dụng lực của đòn bẩy tác động đến tiềm năng của yếu tố cảm xúc ra sao.
Dường như ngày càng có nhiều các tổ chức đang tìm kiếm điều này, khi mà công nghệ được sao chép một cách nhanh chóng và công nghệ web san bằng sân chơi trên những thứ như giá cả địa phương, thì cảm xúc vẫn là điều tạo được sự khác biệt mạnh mẽ.
Điều khiến tôi nghĩ về lập luận thuyết phục này là bài báo gần đây trên tạp chí Wall Street Journal có tựa đề For Olympic Marketers, Emotions Pay (Dành cho khán giả Olympic, trả tiền vì cảm xúc). Tác giả nhấn mạnh rằng không giống các sự kiện như Super Bowl hay World Cup, Thế vận hội Olympic là mảnh đất màu mỡ cho các cảm xúc.
Vậy, làm thế nào để tạo được cảm xúc mạnh mẽ cho khách hàng về những thứ chúng ta mời chào họ?
Đầu tiên, hãy suy nghĩ kỹ về các phân đoạn khách hàng.
Phân đoạn tốt phản ánh những hành vi nên nhớ rằng thậm chí các khách hàng tương đối giống nhau vẫn có những hành vi và sở thích rất khác nhau.
Tiếp theo, bạn cần suy nghĩ thấu đáo về các tình huống của khách hàng khi họ đang lắng nghe và tìm hiểu về lời mời chào của bạn.
Điều gì đang ở trong tâm trí của họ? Họ đang lo lắng về vấn đề gì? Họ đang mong đợi điều gì? Liệu họ thích tìm hiểu nhiều hơn hay chỉ cần biết về những vấn đề mà bạn đã giải thích cho họ?
Tiếp nữa, hãy cân nhắc những cảm xúc bạn có thể sử dụng một cách thích hợp
Tôi hoàn toàn không bào chữa cho một vấn đề gì hấp dẫn hoặc giả dối. Hãy vận dụng một vài bài tập trí tuệ với các thành viên trong nhóm – những điều họ có thể nghĩ đến cũng là những điều có thể nảy sinh ý định về việc khơi gợi các cảm xúc.
Cuối cùng, hãy thử nghiệm chúng
Cố gắng lôi kéo các thành viên đại diện từng phân đoạn khách hàng của bạn và quan sát xem họ sử xự ra sao. Với cách này, sự quan sát là câu trả lời tuyệt đối. Các khách hàng thường sẽ không (hoặc không thể) nói với bạn điều mà họ thực sự đang định hướng hành vi của mình.
Bạn nghĩ gì về những điều trên đây? Những ví dụ yêu thích của bạn về một sản phẩm mà bạn có thể sẽ đem lại cho chúng một lời mời chào đầy cảm xúc?
(Theo Vietnam Net)
Mobile Marketing sẽ bùng nổ? 05/10/2009
Posted by Dang Vo in Marketing.Tags: Marketing, Mobile marketing, tiếp thị
add a comment
Tính đến đầu năm 2008, Việt Nam có hơn 30 triệu người dùng điện thoại di động với tốc độ gia tăng số lượng thuê bao nhanh chóng.
Theo đánh giá của công ty nghiên cứu thị trường TNS Việt Nam, tốc độ tăng trưởng thuê bao di động của Việt Nam tăng 200% năm 2007. Việt Nam đang dần trở thành mảnh đất màu mỡ để triển khai mobile marketing (tiếp thị qua điện thoại di động).
Sức mạnh của chiếc “alô”
Mobile marketing ra đời đầu tiên tại Mỹ vào đầu năm 2004. Đến nay khái niệm này không còn là điều mới mẻ.
Tiếp thị bằng chiếc điện thoại nhỏ xíu đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà quảng cáo và các tập đoàn có uy tín như: Wheat Crunchies (Anh), chuỗi nhà hàng café Dunkin Donuts (Mỹ), các hãng điện thoại di động Sony Ericsson, Nokia, LG cũng nhanh chân dùng sản phẩm do họ sản xuất vào các chiến dịch quảng cáo.
Mobile marketing đã được khai thác rất thành công tại các nước châu Âu, châu Mỹ và châu Á, được người tiêu dùng đón nhận và đánh giá cao. Công cụ tiếp thị này hội tụ được những ưu thế khác biệt mà các loại hình quảng cáo khác không có được.
Thứ nhất, mobile marketing là một công cụ truyền thông có thể đo lường hiệu quả chính xác hơn các loại hình truyền thông truyền thống. Theo ước tính của các công ty trong ngành, có khoảng trên 75% khách hàng nhận thông điệp quảng cáo nhớ được thông tin quảng cáo trên mobile.
Thứ hai, mobile marketing có khả năng tương tác, đối thoại hai chiều với người tiêu dùng với tốc độ nhanh, chính xác. Điều này có nghĩa là khách hàng có thể gửi phản hồi cho nhà tiếp thị ngay khi nhận được thông điệp tiếp thị.
Doanh nghiệp dùng mobile marketing có thể nhắm tới đối tượng khách hàng mục tiêuđược phân loại theo tuổi tác, giới tính, nơi cư trú, xu hướng tiêu dùng từ cơ sở dữ liệu thông tin khách hàng đã lập trước đó.
Thứ ba, công cụ này có thể tích hợp với các công cụ truyền thông khác như: ti-vi, báo, đài phát thanh, tờ rơi, áp-phích… các chương trình quảng cáo ngày nay (đặc biệt là TVC) đều kèm hướng dẫn gửi tin nhắn nếu khách hàng muốn tham gia chương trình tiếp thị. Ví dụ: Bình chọn ca sĩ yêu thích nhất cuộc thi Vietnam Idol 2008.
Vì vậy mà hiệu quả của các chiến dịch mobile marketing mang lại lớn hơn nhiều so với chi phí đầu tư. Đó là: tăng mức độ nhận biết nhãn hiệu đối với khách hàng mục tiêu, định hướng sự chú ý của khách hàng vào các hoạt động mua bán. Mobile marketing góp phần tạo ra một cơ sở dữ liệu về những mối quan tâm cũng như sự trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu.
Các hình thức phổ biến
Các hình thức mobile marketing thông dụng đang được triển khai trên thế giới hiện rất đa dạng.
Mobile marketing có thể ở dạng thông tin cơ bản (gửi tin nhắn để gửi thông tin sản phẩm mới, chương trình khuyến mại,…). Đó cũng có thể là chương trình bình chọn, xem video trên điện thoại di động.
Hãng xe hơi Jaguar từng thực hiện chiến dịch quãng cáo cho dòng xe Jaguar XF tại Mỹ. Hãng này lập một website dành cho điện thoại di động (www.jaguarxf.mobi) để người tiêu dùng có thể truy cập và xem hình ảnh và các đoạn video về Jaguar XF. Chiến dịch đã thu hút 85.000 khách hàng truy cập. Quảng cáo của Jaguar XF trên di động được thấy 15 triệu lần.
Kỳ vọng ở tương lai
Từ năm 2006, các doanh nghiệp Việt Nam mới biết đến khái niệm mobile marketing. Mobile marketing hình thành khi các nhà cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên điện thoại di động phát triển ứng dụng này. Thời gian đầu, mobile marketing chỉ được triển khai nhỏ lẻ ở một vài công ty. Lúc ấy, mobile marketing chỉ dừng lại ở mức download nhạc chuông, bài hát, game, thông tin sự kiện…
Ngân hàng là ngành sử dụng SMS như một công cụ marketing khá hữu hiệu. Những ngân hàng tên tuổi như: ACB, Techcombank, Eximbank, Vietcombank… từ lâu đã sử dụng tin nhắn SMS để thông báo lãi suất tiền gửi, nhắc các khoản vay đáo hạn, dịch vụ tài chính mới…
Cao hơn là dịch vụ kiểm tra tài khoản, thanh toán tiền qua SMS (SMS banking) mà Vietcombank đang áp dụng. Tuy nhiên, ở các hình thức triển khai trên, khách hàng tiếp nhận thông tin một cách thụ động.
Một số nhà cấp dịch vụ SMS tiếp cận khách hàng theo quy trình giới thiệu trực tiếp, ký hợp đồng sau đó kết hợp với nhà khai thác mạng để triển khai. Thông thường toàn bộ thời gian này mất từ 5-10 ngày. Vì thế chiến dịch mobile marketing chưa đáp ứng yếu tố thời gian.
Hạ tầng mạng viễn thông di động cũng là vấn đề làm mobile marketing kém hấp dẫn. Mạng viễn thông di động phổ hiến tại Việt Nam hiện nay là GSM.
Thế hệ mạng này cho phép truyền và tải dữ liệu với dung lượng không cao. Đó là lý do nhiều chương trình chỉ ở dạng SMS marketing (gửi tin nhắn quảng cáo dịch vụ), dạng sơ khai của mobile marketing. Do đó khách hàng đã đồng nhất hai loại hình này.
Số thuê bao di động Việt Nam hiện có khoảng 40 triệu. Hơn nữa, chúng ta đang phát triển mạng viễn thông thế hệ thứ ba (3G). Khi đó, công năng truyền và tải dữ liệu (tin nhắn, hình ảnh, video, e-mail) sẽ nhanh hơn. Đây là cơ hội cho nhà cung cấp dịch vụ mobile marketing cũng như doanh nghiệp.
(Theo Thành Đạt)
Năm chiến lược đo lường hiệu quả marketing 05/10/2009
Posted by Dang Vo in Marketing.Tags: chiến lược, hiệu quả Marketing, Marketer
add a comment
Với sự gia tăng mạnh mẽ các kênh kỹ thuật số, marketing đang trải qua một giai đoạn phát triển bùng nổ.
Như một kết quả, các marketer tại các tổ chức đang phát triển đang phải điều chỉnh lại những nỗ lực của họ và tập chung nhiều hơn cho hoạt động marketing.
Để và đáp lại và xác định hỗn hợp marketing phù hợp trong môi trường mới, các marketer phải tìm ra một phương pháp mới tới tìm ra cách gây hưởng lên khách hàng tiềm năng và khách hàng hiện tại. Nếu làm được như vậy, các marketer có thể tối đa hóa hiệu quả marketing và lợi nhuận trên chi phí đầu tư.
Năm chiến lược chính cần cho việc đo lường hiệu quả marketing. Hãy để mắt đến chúng, cùng các thủ thuật thực hiện và cách thức để vượt qua những thử thách thông thường nhất mà các marketer phải đối mặt trong quá trình thực hiện chiến lược.
1. Lập kế hoạch trước và thiết kế cơ cấu thẩm quyền thực hiện để hỗ trợ toàn bộ các kênh.
Nhiều tổ chức xem việc đo lường marketing như một ý nghĩ đến sau việc hoạch định chiến dịch. Tuy nhiên, việc đo lường và liên tục phản hồi là hai bước quan trọng trong quy trình hoạch định chiến dịch. Lên kế hoạch trước đảm bảo cho những điều kiện kiểm tra và giám sát đạt được sự phù hợp.
Mỗi kênh khác nhau đòi hỏi những kỹ thuật giám sát khác nhau, nhưng có một số vấn đề phổ biến cần được cân nhắc:
Loại chiến dịch nào sẽ được giám sát?
Đưa các chiến dịch và hoạt động truyền đạt trên toàn kênh vào trong một chương trình đơn lẻ như thế nào?
Những thông tin nào có khả năng làm cho một phản hổi trở nên phù hợp?
Những dự liệu biến đổi sẽ được quản lý như thế nào cho các chiến dịch marketing trực tiếp và gián tiếp?
Khi một chương trình sử dụng nhiều kênh, cần phân cấp các chiến dịch cho mỗi kênh phù hợp, từ đó đảm bảo sự đo lường hướng đến mục tiêu kinh doanh. Mỗi cấp độ trong hệ thống phân cấp nên được xác định rõ ràng và những người thực hiện phải hiểu rõ nó trước khi bắt tay vào thực hiện chiến dịch.
2. Lập ra nhóm kiểm soát nhằm đo lường chính xác hơn sức nâng của chiến dịch.
Với sự phát triển của các kênh truyền thông kỹ thuật số, việc xác định tiêu chuẩn nhóm kiểm soát trên toàn bộ các kênh trong suốt quá trình hoạch định ngày càng quan trọng. Làm như vậy để đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các phân đoạn trên mọi khía cạnh, điều này sẽ cho phép tính toán chính xác các kết quả về mặt lợi nhuận.
Việc thiếu một quy trình hoạch định có kiếm soát thường xuyên hạn chế khả năng của marketer trong việc thiết kế và thực hiện các chiến dịch toàn kênh. Xác định các nhóm kiểm soát giúp đo lường hiệu quả của chiến quả của chiến dịch. Những tổ chức thực hiện việc lên kế hoạch cho các chiến dịch và có công cụ đo lường có thể tổ chức và quản lý các nhóm kiểm soát hiệu quả hơn nhiều.
3. Xác định các phương pháp đo lường thích hợp.
Các tổ chức phải xác định những thông số và tiêu chuẩn đo lường phù hợp, quan tâm đến việc phác thảo một hệ thống các thông số phù hợp với chiến lược chung và cung cấp dữ liệu có ý nghĩa cho những người thực hiện chính. Các thông số phải liên quan đến hoạt động marketing, kết quả tài chính, và mức độ tác động lên người tiêu dùng.
Một hệ thống thông số tốt được cho phép hiểu được mối liên hệ tương quan giữa các chiến dịch marketing tới xác định các mục tiêu chung. Ngoài ra, nó những không giới hạn sự đo lường các kết quả cơ bản mà còn mở rộng sang cả các kết quả tài chính và những thông số giá trị khách hàng.
4. Xác định các giới hạn về quyền hạn.
Các giới hạn về quyền hạn chính là phạm vi chức năng của hệ thống mục tiêu, các kênh phản hồi và hoạt động truyền đạt với thế giới bên ngoài. Dưới đây là một số định hướng phát triển các giới hạn về quyền hạn.
Thiết kế và áp dụng các giới hạn cho tất cả các kênh trong một chiến dịch hay một chương trình.
Phải hiểu rằng việc theo dõi phản hồi từ người tiêu dùng có thể cần phải có một vài thử nghiệm và sẽ có sai sót.
Tập trung nhiều hơn vào các giới hạn chung, hạn chế sự quan tâm cho các giới hạn được thiết kế để quản lý một số nhỏ các phản hồi.
Kiểm tra và áp dụng các giới hạn cho mỗi chiến dịch, bởi vì những chiến dịch khác nhau có thể cần cách vận hành khác nhau.
Áp dụng phương pháp thác nước nhằm mục đích làm cho các phản hồi trở nên phù hợp hơn, từ đó các giới hạn phù hợp sẽ được ưu tiên áp dụng cao hơn.
Đối với các phương tiện truyền thông kỹ thuật số, việc xác định các giới hạn phù hợp có khả năng bao phủ toàn bộ các phản hồi là yếu tố mang tính chất sống còn. Những giới hạn khác nhau có thể được áp dụng, bởi vì các chiến dịch có thể có trách nhiệm tích lũy các phản hồi.
Cảm nhận đầu tiên: Chiến dịch đầu tiên nhận được sự tán thưởng nhờ các phản hồi.
Cảm nhận cuối cùng: Chiến dịch cuối cùng nhận được sự tán thưởng nhờ các phản hồi.
Phân bổ ngang bằng: Tất cả các chiến dịch đều nhận được sự tin tưởng như nhau.
Phân bổ trọng điểm: Sự tin tưởng được chia đều cho các chiến dịch từ điểm xuất phát là một phân bổ trọng điểm.
5. Tự động hóa và sử dụng công cụ báo cáo, phân tích.
Các tổ chức có thể sử dụng nhiều công cụ để tự động hóa các công đoạn trong quy trình giám sát và báo cáo. Những công cụ này có thể được định hình tới giám sát các thông số đã chọn theo một chu kỳ cụ thể và mang về các báo cáo hoặc các biểu đồ, những thứ được tiêu thụ bởi một lượng lớn hoặc nhỏ các khán giả.
Điểm chính ở đây là, quá trình phản hồi mang lại một lượng lớn các thông tin rất đa dạng, cần áp dụng các giới hạn quyền hạn và các kết quả đo lường để xác định các thông tin hữu ích.
Tuy nhiên, việc này thực sự là một thử thách đối với các tổ chức bởi sự khổng lồ của khối lượng thông tin được thu thập từ các chiến dịch, các kênh truyền thông và các phân khúc. Theo đó, tự động hóa chỉ có ý nghĩa trong một phạm vi thiết yếu.
Thực hiện các chiến lược trên cho phép các marketer có được sự hiểu biết quan trọng trong việc thực hiện marketing, về hiệu quả của các kênh truyền thông và sự tác động qua lại giữa các kênh này. Nó cũng giúp các tổ chức đưa ra các quyết định chi tiêu tiêu cho marketing, cũng như sự đầu tư hợp lý cho tất cả các kênh.
(Theo Thúy Hương/ Lanta Brand sưu tầm và lược dịch từ marketingprofs.com)
Hệ thống khách sạn Hilton giới thiệu hệ thống nhận diện thương hiệu mới 03/10/2009
Posted by Dang Vo in Branding.Tags: Hilton, khách sạn, nhận dạng thương hiệu, thương hiệu dịch vụ
add a comment
Alex Palmer
Hilton Worldwide (trước đây là tập đoàn khách sạn Hilton- Hilton Hotels Corporation) đã công bố việc tung ra hệ thống nhận diện thương hiệu mới của nó bao gồm tên và logo mới. Tên mới của tập đoàn này sẽ là Hilton Worldwide có ý muốn nói và nhấn mạnh đến tính thống nhất về sự ổn định của các thương hiệu khách sạn cũng như phạm vi hoạt động của nó.
Những thay đổi này chính là một phần trong các nỗ lực của công ty nhằm tái thống nhất triệt để hơn nữa công ty từ khi những mảng kinh doanh trên phạm vi quốc tế trở lại thuộc quyền sở hữu của Hilton vào năm 2006 (sau khi nó đã được bán lại vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước). Cái tên Hilton Hotels Corporation trong quá khứ đã gắn liền và thuộc về nước Mỹ, vì vậy nên tên mới Hilton Worldwide sẽ tượng trưng cho một thương hiệu mới cho toàn thể tất cả những mảng kinh doanh của nó ở trong lẫn ngoài nước.

Một biểu tượng mới được thiết kế với dụng ý nhằm khơi dậy một cảm giác về lịch sử cũng như tương lai của công ty. Paul Brown, chủ tịch phụ trách các dịch vụ thương mại và thương hiệu toàn cầu của Hilton Worldwide nói rằng “Chúng tôi muốn nó mang một bộ mặt mới, hiện đại nhưng cũng lưu giữ lại những nét quan trọng từ quá khứ của nó.”
Một phần trong chữ H được lấy từ hơn 70 biểu tượng của Hilton Hotel. Nó có hình dạng của một chiếc cầu, mang ngụ ý một sự kết nối giữa hệ thống cũ và hệ thống mới. Brown nói “Hai màu bạch kim và vàng trong biểu tượng báo cho bạn biết rằng tập đoàn chúng tôi muốn vươn xa hơn cũng giống như các dấu hiệu nhận dạng được thiết kế ở trên – đó là tính chuyên nghiệp kết hợp đi cùng với công ty nhưng cũng là sự phồn vinh từ quá khứ để lại”. Tập đoàn Hilton đã làm việc và hợp tác từ khá lâu với tổ chức tư vấn thương hiệu Landor Associates để phát triển các đặc điểm nhận dạng thương hiệu mới này.
Trong khi những thương hiệu khách sạn độc lập trực thuộc Hilton Worldwide vẫn giữ nguyên thì những đặc điểm mới này sẽ được sử dụng trong các dịp thông tin liên lạc giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp cùng các chủ khách sạn, thương mại du lịch, và nó cũng sẽ được sử dụng cho chương trình kỷ niệm tôn vinh công ty mang tên Hilton HHonors
Những đặc điểm mới sẽ được quảng bá rộng rãi qua các mẫu quảng cáo trên HHonors vào năm sau. Brown còn cho biết thêm là thương hiệu HHonors là một cách tiếp thị cũng như quảng cáo mà chúng tôi sẽ không phải tiêu tốn quá nhiều tiền và đó cũng là một phần lý do đối với sự thay đổi này. Một lợi thế lớn mà chúng tôi tin Hilton Worldwide có được là việc chúng tôi đã xây dựng được những thương hiệu rất chuyên biệt và gần gũi với người tiêu dùng và đó chính là những gì cực kỳ quan trọng mà chúng tôi luôn chú ý xây dựng cho những thương hiệu này. Tuy nhiên chúng tôi cũng muốn đảm bảo rằng sự liên kết với chương trình HHonors phải thật rõ ràng để họ thực sự quan tâm và chú ý đến nó.

Phần lớn trong những nỗ lực nhằm đáp ứng khách hàng sẽ được thực hiện thông qua những thương hiệu riêng lẻ trong hệ thống hơn là từ hình ảnh của Hilton Worldwide. Tập đoàn Hilton đã cih hơn 103 triệu đô la để quảng cáo trong năm 2008 và hơn 3 6 triệu đô la khác trong sáu tháng đầu năm 2009, theo như báo cáo nghiên cứu từ Nielsen.
Đây sẽ là một năm rất bận rộn và nhộn nhịp với tập đoàn Hilton. Công ty đã cho ra mắt hai thương hiệu khách sạn ở dài ngày với tên gọi the Home2 Suites vào tháng Giêng vừa rồi và theo như Brown thì nó đã mang đến thành công vượt quá mong đợi. Đã có tới hơn 40 hồ sơ nhượng quyền kinh doanh mô hình này được chấp thuận và 25 hồ sơ khác đang trong quá trình xúc tiến, với dãy khách sạn nhượng quyền đầu tiên sẽ đi vào hoạt động vào tháng Sáu năm 2010.
Ông Brown còn cho biết thêm là tập đoàn Hilton đề ra một lập trường rất rõ ràng đối với việc thiết kế các phòng cực kỳ tiết kiệm- nó sử dụng rất ít diện tích đất và nó cũng là một dự án hết sức hấp dẫn trên quan điểm tài chính khi mà tổng chi phí xây dựng chỉ nằm trong giới hạn huy động vốn của doanh nghiệp.”
Cho dù tương lai vẫn chưa thật rõ ràng đối với thương hiệu khách sạn Denizen mới được nâng cấp của Hilton Worldwide, thương hiệu đã được giữ lại quyền sở hữu sau một vụ kiện từ Starwood Hotels & Resort Worldwide đã được sắp đặt trên giấy tờ vào đầu năm nay. Brown nói thêm là công ty vẫn đang cam kết với việc cho ra mắt một thương hiệu mới trong một không gian theo phong cách sống mới, bên cạnh những gì mà thương hiệu này rõ ràng đang xác định sẽ tiến hành trong thời điểm hiện tại.”
Minh Hoàng –
(Sưu tầm và lược dịch từ Brandweek)
Bằng cách nào các thương hiệu kết nối với trẻ em 03/10/2009
Posted by Dang Vo in Branding.Tags: thương hiệu kết nối, thương hiệu trẻ em
add a comment
Vivian Manning-Schaffel
Kim Bremer, giám đốc của Infant Feeding thuộc Earth’s Best cho rằng các ông bố, bà mẹ nên cảm ơn ảnh hưởng của những nhân vật như Elmo và hiệu ứng của Sesame Street lên lũ trẻ.
“Lũ trẻ biết Elmo bởi vì chúng xem Sesame Street và nhận ra thương hiệu” Bremer nói. “Chúng tôi có ảnh hưởng quan trọng lên những khán giả nhỏ.”
Hãng Earth’s Best, một thương hiệu thực phẩm hữu cơ cho trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, hiện tại đang thu được những trái ngọt từ mối quan hệ hợp tác xây dựng thương hiệu cùng có lợi với Sesame Workshop. Mối quan hệ này đang mạng lại cho họ những khách hàng trung thành thực sự. Tuy nhiên, mối quan hệ này không xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận, mà là sự chia sẻ sứ mệnh tạo ra “thói quen tốt cho sức khỏe.”
“Sự nhận biết thương hiệu là một lợi ích có được từ việc tham gia vào mối quan hệ, nhưng đó không phải là yếu tố khiến chúng tôi tham gia” Bremer nói. “Chúng tôi không ở ngoài đó cố gắng tạo ra một đống lợi nhuận khổng lồ với những sản phẩm toàn đường. Sesame Workshop đang tìm kiếm những những đối tác hàng đầu trong lãnh vực thực phẩm tự nhiên và họ chọn thương hiệu của chúng tôi vì lợi ích của sản phẩm và vị trí lãnh đạo trên thị trường.”

Greg Livington, đồng tác giả cuốn “Marketing to the New Super Consumer Mom & Kid” và là Giám đốc phát triển của Wonder Group tiết lộ rằng, đối với lũ trẻ, có Elmo ở bên cạnh thì sẽ không đau, nhưng điều đó không mang đến bất kỳ mức độ cảm xúc có ý nghĩa, có thể đo lường nào về lòng trung thành thương hiệu. “Sự nhận biết các nhân vật của Sesame Street và các yếu tố tạo dựng thương hiệu khác biệt hoàn toàn so với sự thừa nhận thương hiệu” Livingston nói.
Có lẽ, đó chính là nguyên nhân tại sao các marketer tại Fisher – Price, một thương hiệu chuyên sản xuất đồ chơi, lại hướng tầm nhìn của họ đến những đứa trẻ ở độ tuổi trưởng thành hơn. “Chúng tôi quảng cáo tới những đứa trẻ bắt đầu ở độ tuổi lên ba.
Ở độ tuổi này, lũ trẻ bắt đầu nói về những gì chúng thích, và sự lựa chọn đó được những bà mẹ sẵn sàng đáp ứng” Lisa Mancuso, giám đốc marketing cao cấp tại Fisher – Price phát biểu.
“Chúng tôi xem xét rất kỹ những yếu tố tạo tạo dựng thương hiệu, những yếu tố lôi cuốn lũ trẻ” Mary Carson, giám đốc quảng cáo cho biết thêm. “Chúng tôi muốn lũ trẻ yêu cầu mẹ chúng cung cấp những sản phẩm mà chúng tôi tạo ra, bởi vậy sự truyền đạt tên sản phẩm là hết sức quan trọng trong mỗi chiến dịch quảng cáo.”
Dòng sản phẩm Tots của Earth Best là dòng sản phẩm hướng đến những đứa trẻ từ 18 tháng đến 5 tuổi. Bremer cho rằng, mặc dù mẹ là người người trông trẻ, nhưng sự lựa chọn của họ chịu nhiều ảnh hưởng từ lũ trẻ. “Chúng tôi thường cố gắng tạo ra những màu sắc, những đồ vật mà các bà mẹ phải thốt lên rằng chúng thật bắt mắt, ngộ nghĩnh, và dĩ nhiên các nhân vật phải thật nổi bật vì như thế bọn trẻ mới dễ dàng nhận ra.”
Không cần biết khi nào chúng phát triển sự nhận thức về thương hiệu, ngày các nhiều những đứa trẻ còn rất nhỏ được phép đưa ra yêu cầu về những sản phẩm mà chúng yêu thích. “Chúng tôi gọi quyết định mua sắm này là ‘thiếu kiểm soát’” – Livingston nói. “Đó là một quyết định mua sắm mà người mẹ phê chuẩn chủng loại và lũ trẻ là người ra quyết định như là Ya Ua, ngũ cốc v.v… Bà mẹ ngày nay thực sự là người đi đầu trong việc khuyến khích trẻ ra quyết định. Họ cho rằng hoạt động này cho họ cơ hội dậy bé yêu của mình cách tự đưa ra quyết định.”
Và dù có tin vào điều đó hay không thì các bà mẹ đều cảm thấy cách này tốn ít thời gian. Dave Siegel, tổng giám đốc Wonder Group, đồng tác giả cuốn “Marketing to the New super consumer Mom and kid” phát biểu: “Các bà mẹ thời nay được giáo dục tốt, nhưng rất khổ sở vì bị kẹt giữa một bên là công việc và một bên là con cái. Họ không có nhiều thời gian hoặc tiền bạc. Họ muốn giảm mọi rắc rối xuống mức thấp nhất, bởi vậy họ đưa ra quan điểm của mình với lũ trẻ.”
Vậy bằng cách nào một thương hiệu xác lập vị trí trong những đứa trẻ? Hãy nhớ rằng, người mẹ là người ra quyết định chi tiêu cuối cùng và phát triển định hướng cho cả họ và con cái họ. “Bạn cần phải biết sản phẩm của bạn thuộc chủng loại nào, đâu là nơi sản phẩm của bạn sẽ tới v.v… Livingston nói. “Đôi khi bao bì đóng gói và những yếu tố tạo dựng thương hiệu được quyết định bời 75% là lũ trẻ và 25% là những bà mẹ. Tất cả tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ và chủng loại sản phẩm.”
Mancuso cũng đồng tình với nhận định trên “Chúng tôi không loại bỏ vài trò của người mẹ trong việc định hướng cho lũ trẻ”. “Phương pháp tiếp cận của chúng tôi trong việc phát triển sản phẩm tiếp tục là ‘con muốn, mẹ tán thành.’ Tất cả sản phẩm của chúng tôi là vì lợi ích phát triển của trẻ, bởi vậy các bà mẹ có thể cảm thấy yên tâm về quyết định mua sắm của họ.”
Phương pháp ‘cảm thấy yên tâm’ này là phương tiện để giữ vững địa vị trong lãnh vực sản phẩm cho trẻ. “Khi chúng tôi hỏi những bà mẹ, điều gì khiến Sesame Street có ý với họ như một thương hiệu, họ nói những thứ như là ‘tôi tin tưởng ở nó’, ‘tôi sẽ là khách hàng trung thành với nó’, ‘tôi có cảm nhận tốt về nó’, ‘tôi biết tôi có thể trông đời ở nó điều gì’” Bremer nói.
“Và đó là tất cả những thứ họ gắn cho thương hiệu của chúng tôi ở mức độ cảm nhận.” Tin tưởng, trung thành, và một quyết định có thể yên tâm. Điều gì các bà mẹ có thể kìm nén? Đặc biệt là khi lũ trẻ của họ đang nhặt những sản phẩm của chúng tôi và giỏ hàng của họ.
(Theo Thu Hương / Lanta Brand ưu tầm và lược dịch từ brandchannel.com)

